Bầu cử Đại biểu Nhân dân

hiến pháp 2013

doan

Giải Quyết Khiếu Nại Tố Cáo

Số điện thoại cần biết

Thông tin qua video

Khách56
Thành viên10
Hôm nay153
24h qua1733
Tổng truy cập2638246
Your IP35.168.112.145

GIÁ TRỊ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DI SẢN HỒ CHÍ MINH TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY

1. Quan niệm về di sản Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh trong sự tôn vinh của dân tộc và thế giới nhân loại: anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hóa kiệt xuất ở tầm danh nhân văn hóa của dân tộc và thế giới. Nhà Mác xít sáng tạo lớn của Cách mạng Việt Nam trong thế kỷ XX. Ngọn cờ đầu của phong trào giải phóng dân tộc, người bạn lớn của các dân tộc chống chủ nghĩa thực dân, vì độc lập tự do, vì ĐLDT và CNXH. Lãnh tụ Cu Ba, Phi đen Catstơ rô Ru giơ đã đánh giá về Người: “Đồng chí Hồ Chí Minh thuộc về một lớp người đặc biệt mà cái chết lại gieo mầm cho sự sống, đời đời bất diệt”.

Các học giả nước ngoài, nghiên cứu sự nghiệp và tư tưởng Hồ Chí Minh cho rằng, Hồ Chí Minh là hình ảnh tiêu biểu, tốt đẹp nhất của dân tộc Việt Nam. Trong con người Hồ Chí Minh, có phẩm chất của Thánh, có Tâm của Phật, có trí tuệ của Mác và Lê-nin, có đầu óc thiết thực của Tôn Trung Sơn, lại có cả tâm hồn Nguyễn Trãi và Nguyễn Du nữa.

Như vậy, Hồ Chí Minh là sự kết tinh và thăng hoa những gì ưu tú nhất, tốt đẹp nhất của dân tộc và thế giới nhân loại. Hồ Chí Minh, ở tầm vóc văn hóa và nhân cách lớn, là bậc Đại Trí, Đại Nhân, Đại Dũng.

Phạm Văn Đồng, một trong những học trò kiệt xuất của Hồ Chí Minh đã nhận xét về Người: “Hồ Chí Minh cao mà không xa, mới mà không lạ, to lớn mà không làm ra vĩ đại, chói sáng mà không làm ai choáng ngợp, mới gặp lần đầu đã cảm thấy thân thiết từ lâu”. Đó là sự khắc họa chân dung nhân cách Hồ Chí Minh bằng ngôn ngữ, sự hài hòa giữa giản dị và vĩ đại. Vĩ đại thực sự nên giản dị. Càng giản dị lại càng trở nên vĩ đại.

Nhà tư tưởng Mác xít, có bản lĩnh sáng tạo, độc lập tự chủ, con người của những tư tưởng cách tân, đổi mới, mang cốt cách hiền triết Á Đông, đậm bản sắc Việt Nam.

Hồ Chí Minh là một hiện tượng văn hóa độc đáo, chung đúc những tinh hoa của dân tộc, của thời đại và thế giới nhân loại. Ở Người là một sự thống nhất hữu cơ giữa:

+ Con người với cuộc đời và sự nghiệp

+ Tư tưởng với phương pháp và phong cách

+ Đạo đức với lối sống và nhân cách.

Chung đúc những phương diện đó, cho ta một cảm nhận về văn hóa Hồ Chí Minh.

Bởi vậy, để hiểu di sản Hồ Chí Minh phải có cách tiếp cận hệ thống, đa chiều và chung đúc trong một chỉnh thể trọn vẹn, toàn vẹn, thống nhất, nhất quán đến cao độ.

Người đã đi trọn lô gích của cuộc đời mình, hóa thân vào Nhân dân – Dân tộc và Nhân loại.

Người từng nói: Độc lập cho Tổ quốc tôi, Tự do cho dân tộc tôi, Hạnh phúc cho đồng bào tôi. Đó là tất cả những gì tôi muốn, đó là tất cả những gì tôi hiểu về CNXH. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, CNXH là một hệ giá trị:  Độc lập – Tự do – Hạnh phúc. Đây cũng là hệ giá trị cốt lõi của phát triển, là những giá trị đặc trưng và mục tiêu của CNXH Việt Nam mà Người suốt đời theo đuổi.

 

 Người cũng tự xác định mục đích và lối sống của cuộc đời mình: “Tôi tự nguyện hiến dâng đời tôi cho nhân dân tôi, cho dân tộc tôi và cho cả nhân loại”.

Như vậy, từ quan niệm đầy đủ và chân thực về “Di sản Hồ Chí Minh” phải nhìn nhận rằng, đó là tổng hợp từ toàn bộ hệ thống tư tưởng, từ hoạt động thực tiễn cách mạng phong phú của Người và từ đạo đức nhân cách mẫu mực của Người, có ảnh hưởng quan trọng và vô cùng sâu sắc tới cuộc sống của mọi người dân, tới sự vận động, phát triển của cách mạng Việt Nam, dân tộc Việt Nam, tới các dân tộc được thức tỉnh trong cuộc đấu tranh chống áp bức nô dịch của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân, trong cách mạng giải phóng dân tộc để phát triển dân tộc trong thời đại ngày nay. Di sản Hồ Chí Minh nổi bật dòng tư tưởng chủ đạo “ĐLDT và CNXH”, “ĐLDT gắn liền với CNXH” – Phát kiến vĩ đại này đã mở ra ở Việt Nam một thời đại lịch sử oanh liệt, thời đại Hồ Chí Minh, hòa trong dòng lớn của thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH trên thế giới, được mở ra từ sau thắng lợi của cách mạng Tháng Mười Nga.

Di sản Hồ Chí Minh sống động bởi tấm gương đạo đức cao cả, vừa là tư tưởng đạo đức học Mác xít của Việt Nam hiện đại vừa là tấm gương đạo đức và thực hành đạo đức mẫu mực của Người với các chuẩn mực giá trị: C-K-L-C và các nguyên tắc ứng xử: Chí công – vô tư”.

Di sản Hồ Chí Minh là tổng hợp tất cả hệ thống tư tưởng lý luận của Người, thể hiện các quan điểm, nguyên tắc, phương pháp của Người – với tư cách nhà tư tưởng Mác xít sáng tạo – định hình thành đường lối chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam, có ảnh hưởng không chỉ tới cách mạng Việt Nam mà còn góp phần phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, làm phong phú thêm kho tàng lý luận của phong trào cách mạng thế giới. Di sản Hồ Chí Minh còn là hoạt động thực tiễn vô cùng phong phú của Người trong hơn 6 thập kỷ đấu tranh cách mạng, từ lúc tìm đường cứu dân cứu nước, chọn đường và nhận đường đến khi tìm thấy con đường cách mạng khi giác ngộ chủ nghĩa Mác-Lênin, theo đuổi đến cùng lý tưởng và mục tiêu CNXH và CNCS, sáng lập ra Đảng, Nhà nước, Mặt trận, quân đội và các đoàn thể cách mạng, tổ chức lực lượng, gây dựng phong trào, đào tạo huấn luyện cán bộ, thực hành triết lý Thân dân và Chính tâm trong đạo làm người, phát triển từ Thân dân tới Dân chủ, từ chính tâm đến đạo đức cách mạng, đấu tranh chống CNCN – giặc nội xâm, giặc ở trong lòng, trau dồi đạo đức cách mạng để suốt đời là đầy tớ, là công bộc trung thành, tận tụy của nhân dân.

Tấm gương sáng mẫu mực suốt đời mà Người để lại cho chúng ta noi theo, làm theo… là tấm gương thực hành, gắn chặt lý luận với thực tiễn, thống nhất hữu cơ lý luận với thực tiễn.

Năm thực hành lớn, tiêu biểu của Người đang được Đảng ta vận dụng trong đổi mới hiện nay:

+ Thực hành lý luận trong thực tiễn và tổng kết thực tiễn để nâng lên thành lý luận (thực tiễn hóa lý luận đi liền với lý luận hóa thực tiễn).

+ Thực hành dân chủ trong Đảng, trong Nhà nước và trong xã hội

+ Thực hành dân vận và công tác dân vận

 + Thực hành đoàn kết và đại đoàn kết, đoàn kết trong Đảng, đoàn kết trong dân và đoàn kết quốc tế

+ Thực hành đạo đức cách mạng, suốt đời chống CNCN, tuyệt đối không vướng vào vòng danh và lợi, ở ngoài vòng danh, lợi. Đây là thực hành lớn nhất, xuyên suốt, bao trùm và nổi bật trong mọi thực hành của Hồ Chí Minh. Cần triệt để khai thác phần thực tiễn quý giá này trong di sản của Người trong công cuộc đổi mới, trong xây dựng chỉnh đốn Đảng hiện nay.

Nói tóm lại, di sản Hồ Chí Minh là tất cả những gì mà Người sáng tạo ra từ những phát kiến lý luận, dự báo tương lai, đến xây dựng tổ chức – thể chế và đào tạo bồi dưỡng cán bộ, đến quan hệ của Người với dân, với Đảng, với Nhà nước, các đoàn thể và chế độ, quan hệ quốc tế thủy chung trong sáng, mẫu mực, đến đời tư trong sáng, cuộc sống riêng giản dị… tất cả chung đúc lại tạo nên văn hóa – văn hóa chính trị, văn hóa dân chủ, văn hóa đạo đức, văn hóa ứng xử, lối sống giản dị, tinh tế, cao thượng của Hồ Chí Minh. Di sản Hồ Chí Minh làm sống động di sản truyền thống của dân tộc Việt Nam, di sản văn hóa thế giới và thời đại.

  

2. Giá trị lý luận của di sản Hồ Chí Minh.

Giá trị lý luận của di sản Hồ Chí Minh thể hiện trực tiếp ở hệ thống tư tưởng của Người, ở sự thống nhất hữu cơ giữa tư tưởng với phương pháp và phong cách của Người.

Tư tưởng chủ đạo nổi bật và xuyên suốt: ĐLDT và CNXH; ĐLDT gắn liền với CNXH. Phát hiện ra quy luật phát triển của cách mạng Việt Nam trong thời đại mới, từ khi Người giác ngộ chủ nghĩa Mác-Lênin, CNXH khoa học. Quy luật đó kết hợp tính phổ biến và tính đặc thù của con đường phát triển của cách mạng Việt Nam. Giải quyết thành công mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, giữa GPDT với giải phóng giai cấp, vượt qua ý thức hệ phong kiến và tư sản, đứng vững trên lập trường ý thức hệ của GCCN. Giải quyết thành công mối quan hệ giữa ĐLDT và CNXH trong những điều kiện lịch sử đặc thù của Việt Nam.

Học thuyết Hồ Chí Minh: học thuyết giải phóng: giải phóng dân tộc, giải phóng GCCN, giải phóng xã hội loài người và giải phóng từng cá nhân con người.

Chủ thuyết Hồ Chí Minh: Chủ thuyết phát triển, vì một xã hội phát triển hài hòa các lĩnh vực, dân tộc Việt Nam nhất định phải trở thành một dân tộc thông thái, vì một xã hội văn hóa cao, vì một cuộc sống tốt đẹp với hệ giá trị ĐL – TD – HP cho con người làm chủ thực sự cuộc sống và vận mệnh của mình.

Triết lý Hồ Chí Minh: Nhân sinh và hành động, vì dân sinh – dân trí – dân quyền để đạt tới dân chủ, tự do, công bằng và bình đẳng. Thân dân và chính tâm, dân chủ và đạo đức cách mạng trong Đạo làm người của Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh và những kiến giải sâu sắc về CNXH Việt Nam và xây dựng CNXH ở Việt Nam: Thấm nhuần tính chất GCCN với tính nhân dân, dân tộc và thời đại, thấm nhuần quan điểm thực tiễn, đổi mới, phát triển và hiện đại hóa.

Vận dụng sáng tạo và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào Việt Nam: Quan niệm của Hồ Chí Minh về chủ nghĩa Mác-Lênin, về vận dụng tinh thần và phương pháp Mác-Lênin để làm việc, làm người và làm cách mạng. Thấy trong di sản Mác-Lênin không chỉ là lý luận, là chính trị mà còn là đạo đức và văn hóa.

Sáng tạo quan niệm khoa học về cách mạng “phá cái cũ đổi ra cái mới. Muốn cách mạng trong xã hội, trước hết phải cách mạng chính bản thân mình đã”, về CNXH, (đối lập với chủ nghĩa cá nhân), bổ sung tiếp cận đạo đức học về CNXH (đối lập với CNCN…) những luận điểm mới mẻ, độc đáo của Người về: CNXH, dân chủ và NNPQ, về đặc điểm nổi bật của nước ta trong TKQĐ bỏ qua chế độ TBCN, tiến tới CNXH.

Suốt đời tranh đấu, quét sạch CNCN và trau dồi đạo đức cách mạng.

 Phát hiện quy luật ra đời của Đảng CSVN: chủ nghĩa Mác-Lênin kết hợp với phong trào công nhân và phong trào yêu nước của dân tộc Việt Nam, chủ nghĩa yêu nước gắn liền với chủ nghĩa quốc tế chân chính của GCCN, kết hợp giữa phong trào cách mạng Việt Nam với phong trào cách mạng thế giới.

 Hồ Chí Minh về văn hóa, về đổi mới, về lối sống, tận trung với nước, tận hiếu với dân, để tận hiến cho dân tộc và nhân loại.

Xây dựng quan hệ giữa Đảng với dân, với dân tộc, với quốc tế như những quan hệ mật thiết, máu thịt.

Khi Đảng đã cầm quyền: đề ra hệ thống lý luận về Đảng cầm quyền (12 điều xây dựng Đảng cách mạng chân chính trong “Sửa đổi lề lối làm việc”) và Đảng cầm quyền trong quan hệ với Nhà nước, với luật pháp, với đạo đức và văn hóa.

 Xây dựng thể chế dân chủ, thực hành dân chủ và dùng sức mạnh của dân chủ để chống quan liêu, lãng phí, tham ô, tham nhũng, thực hiện quyền làm chủ thực chất của nhân dân.

 Cán bộ là gốc của mọi công việc, dầy công đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, coi đức là gốc, tài là quan trọng.

Thấy rõ vai trò của quần chúng (của từng người một cũng như của cả cộng đồng), tác dụng của công bằng, bình đẳng,.. của dân chủ và tự do.

Tư tưởng đổi mới, cách tân, hội nhập ở Hồ Chí Minh xuất hiện khá sớm. Kế thừa truyền thống, kết hợp truyền thống với hiện đại một cách hài hòa, không cực đoan, không giáo điều.

 Dự báo, trù tính cho tương lai rõ ràng, rành mạch, nắm vững Thời – Thế và Lực. Dựa vào dân, đem sức ta mà giải phóng cho ta, phát triển sức dân, bồi dưỡng sức dân, lại phải tiết kiệm sức dân, vì dân.

Tóm lại, hệ thống tư tưởng lý luận của Hồ Chí Minh đã bao quát toàn diện các vấn đề cơ bản của đường lối chiến lược và sách lược của cách mạng Việt Nam, con đường phát triển của Việt Nam trong xu thế phát triển của cách mạng thế giới, của thời đại.

Hệ thống tư tưởng lý luận của Người thể hiện tính nhất quán, triệt để mà Người xác định là làm cách mạng phải làm cho đến nơi, theo gương của cách mạng Nga, 1917.

Cách mạng là giải phóng và hướng đích tới phát triển, mà phát triển cao nhất là phát triển con người, vì con người là vốn quý nhất của xã hội. Theo nghĩa hẹp, mỗi con người là một cá nhân, một chủ thể mang nhân cách, tự do và sáng tạo. Theo nghĩa rộng, đó là nhân dân, họ phải là chủ và làm chủ xã hội.

Đó là giá trị khoa học – cách mạng và nhân văn trong phát triển.

Tư tưởng lý luận Hồ Chí Minh còn thể hiện ở phương pháp luận và phương pháp của Người trên tư cách là một nhà biện chứng thực hành, mỗi tư tưởng, mỗi luận điểm đều mang ý nghĩa chỉ dẫn về phương pháp (phương pháp nhận thức, phương pháp hành động, phép ứng xử, phép dùng người…).

Sự thống nhất giữa lý luận với thực tiễn, nhận thức để hành động, để thực hành. Không lý luận suông, không thực tiễn mù quáng, hành động phải kiên quyết, dũng cảm nhưng phải sáng suốt, mưu lược, không phiêu lưu, tự phát.

“Thực hành sinh ra hiểu biết

Hiểu biết tiến lên lý luận

Lý luận lãnh đạo thực hành”.

Chú trọng tổng kết để kiểm chứng tính đúng sai của lý luận đồng thời phát hiện lý luận mới.

Phong cách Hồ Chí Minh nổi bật ở tính thiết thực, chú trọng hiệu quả, phong cách hành động, phong cách dân chủ. Nói ít làm nhiều, chủ yếu là hành động. Theo phương châm “Dĩ bất biến ứng vạn biến”; có lý có tình, biến đại sự thành tiểu sự, biến tiểu sự thành vô sự, ứng xử với người, với việc, với đoàn thể phải đúng và khéo (sự tinh tế). Nghiêm với mình và rộng lòng khoan thứ với người. Khoan dung và nhân ái, đề cao đức hy sinh, sự gương mẫu, đó là phẩm chất nhân cách nổi bật của Hồ Chí Minh, trở thành phong cách, lối sống của Người.

3. Giá trị và ý nghĩa thực tiễn của Di sản Hồ Chí Minh.

Di sản Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô giá của dân tộc, của nhân dân và của Đảng ta, là động lực tinh thần mạnh mẽ thúc đẩy công cuộc đổi mới ở nước ta đi tới thắng lợi. Di sản Hồ Chí Minh, đặc biệt là tư tưởng và tấm gương đạo đức của Người là nguồn cổ vũ các thế hệ người Việt Nam hôm nay và mãi mãi về sau trong cuộc hành trình lịch sử lâu dài tới lý tưởng và mục tiêu ĐLDT và CNXH, xây dựng đất nước, chấn hưng dân tộc Việt Nam, làm cho Việt Nam trở nên phồn vinh, văn minh và hiện đại, có mặt xứng đáng trong cộng đồng thế giới. Các tác phẩm tiêu biểu của Hồ Chí Minh đã được xếp vào danh mục các bảo vật quốc gia: “Đường Cách mệnh”, “Sửa đổi lối làm việc”, “Tuyên ngôn độc lập”, “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến”, “Lời kêu gọi chống Mỹ cứu nước” và “Di chúc”.

 Cụ thể hóa những giá trị và ý nghĩa thực tiễn đó của di sản Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển bước ngoặt hiện nay, có thể đề cập tới những phương diện cốt yếu sau đây:

 Xây dựng chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, thực sự làm cho Đảng trong sạch, vững mạnh, xứng đáng là Đảng cách mạng chân chính, là đạo đức, là văn minh theo tư tưởng Hồ Chí Minh, theo tinh thần NQTW4, Khóa XI của Đảng.

 Xây dựng và phát triển nền dân chủ XHCN, hoàn thiện NNPQ, cải cách hành chính, cải cách tư pháp, xây dựng đội ngũ công chức tận tụy phục vụ nhân dân, là công bộc, đầy tớ trung thành của nhân dân.

Đổi mới đồng bộ kinh tế và chính trị, phòng tránh và đẩy lùi quan liêu tham nhũng, đấu tranh chống CNCN, giặc nội xâm, bảo vệ cách mạng, bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng và nhân dân.

Thực hành Dân chủ - Đoàn kết - Đồng thuận xã hội.  

 Mở rộng quan hệ bang giao quốc tế, chủ động hội nhập quốc tế, phát huy nội lực và ngoại lực, tạo ra tiềm năng, phát triển tiềm lực và đạt tới thực lực cho Việt Nam phát triển bền vững.

Phát triển văn hóa, xây dựng con người Việt Nam, hệ giá trị xã hội và chuẩn mực nhân cách con người Việt Nam trong thế kỷ XXI, trong thời đại Hồ Chí Minh.

Bảo vệ và gìn giữ môi trường phát triển, môi trường tự nhiên sinh thái và môi trường xã hội – nhân văn vì hạnh phúc cuộc sống của con người Việt Nam.

                                                              Khánh Duy ( sưu tầm và giới thiệu )

* Hội đồng Lý luận Trung ương.

Số lần xem: 9556
Phản hồi
Họ tên Email
Mã an toàn captcha

UBND

Dịch Vụ Công Mức Độ 2

Dịch vụ công mức độ 3

Tiếp nhận phản ánh, kiến nghị về quy định hành chính

Lấy ý kiến

Ý kiến công dân

TIN NỔI BẬT

Thăm dò ý kiến

Theo bạn giao diện trang thông tin điện tử phuong9govap.gov.vn như thế nào?





Video

THƯ VIỆN ẢNH